Cách tính nhanh lưu lượng – cột áp cho hệ bơm hóa chất tuần hoàn

Trong nhiều hệ thống công nghiệp, bơm hóa chất tuần hoàn không chỉ làm nhiệm vụ “chuyển chất lỏng từ điểm A sang điểm B”, mà còn giữ cho dung dịch luôn đồng nhất, cấp đủ lưu lượng qua bộ lọc, tháp rửa khí, bồn mạ, thiết bị trao đổi nhiệt hoặc đường phun rửa tuần hoàn. Vì vậy, khi tính chọn bơm, hai thông số phải chốt thật nhanh nhưng vẫn đủ chính xác là lưu lượng và cột áp. Nếu chọn lưu lượng thiếu, hệ sẽ tuần hoàn chậm, hiệu quả xử lý kém, nhiệt độ hoặc nồng độ không đồng đều. Nếu chọn cột áp thiếu, lưu chất không đi hết vòng tuần hoàn hoặc không thắng nổi tổn thất trên đường ống, van, co, thiết bị và đầu phun. Ngược lại, chọn quá dư lại làm tăng điện năng, tăng mài mòn và khiến hệ vận hành khó ổn định. Các tài liệu chọn bơm của Grundfos và Pumps.org đều xem điểm làm việc là giao điểm giữa đường cong bơm và đường cong hệ thống, trong đó cột áp hệ thống gồm phần tĩnh và phần tổn thất ma sát, còn tổn thất sẽ tăng theo lưu lượng.

Với hệ tuần hoàn hóa chất, cách tính nhanh hiệu quả nhất là không bắt đầu bằng model bơm, mà bắt đầu từ mục tiêu công nghệ. Bạn cần trả lời ba câu hỏi: dung dịch phải quay vòng bao nhiêu lần trong một giờ, phải đi qua những thiết bị nào, và trong quá trình đó phải thắng những tổn thất áp lực nào. Khi có ba đầu mối đó, việc chọn một model phù hợp trong nhóm máy bơm hóa chất dạng từ Wilo sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Dòng bơm từ dẫn của Wilo được giới thiệu cho các môi trường có yêu cầu kháng hóa chất cao, thiết kế gọn, kín, không rò rỉ kiểu phớt cơ truyền thống; tài liệu Wilo cũng lưu ý với chất lỏng có độ nhớt cao hơn khoảng 30 cP thì cần kiểm tra kỹ hơn trước khi chọn bơm.

Cách tính nhanh lưu lượng – cột áp cho hệ bơm hóa chất tuần hoàn
Cách tính nhanh lưu lượng – cột áp cho hệ bơm hóa chất tuần hoàn

1) Hiểu đúng bản chất của hệ bơm hóa chất tuần hoàn

“Hệ tuần hoàn” nghĩa là chất lỏng đi theo một vòng kín hoặc bán kín rồi quay lại bể nguồn, chứ không phải bơm cấp một lần rồi xả bỏ. Điểm rất quan trọng là nhiều người quen tính bơm cấp nước sạch theo chênh cao tĩnh, rồi mang nguyên cách đó sang hệ hóa chất. Cách làm này dễ dẫn đến sai số vì trong vòng tuần hoàn, nếu đầu hút và đầu xả cuối cùng quay lại cùng một bể hoặc hai điểm có mực chất lỏng gần tương đương, cột áp tĩnh có thể rất nhỏ hoặc gần bằng 0, còn phần quyết định lại là tổn thất ma sát và tổn thất qua thiết bị. Các tài liệu về system curve của Pumps.org và Grundfos đều chỉ ra rằng cột áp hệ thống phải được nhìn như tổng hợp của cột áp tĩnh cộng với tổn thất do ma sát, tổn thất cục bộ và áp lực mà thiết bị công nghệ yêu cầu.

Điều này giải thích vì sao có những hệ hóa chất đặt bơm ngay dưới chân bồn, chênh cao chỉ vài mét nhưng vẫn cần bơm cột áp khá lớn: không phải để “đẩy lên cao”, mà để thắng co, cút, van, lọc, bộ trao đổi nhiệt, lỗ phun, tháp hấp thụ hoặc các đoạn ống nhỏ kéo dài. Trong thực tế, một hệ tuần hoàn qua bộ lọc và giàn phun có thể có cột áp yêu cầu cao hơn nhiều so với một hệ chỉ đảo bồn đơn giản, dù lưu lượng hai hệ tương đương.

2) Cách tính nhanh lưu lượng cho hệ tuần hoàn hóa chất

Cách 1: Tính theo số vòng tuần hoàn của bể

Đây là cách nhanh nhất khi bơm dùng để đảo đều hóa chất trong bồn, giữ nồng độ ổn định hoặc tránh lắng.

Công thức dễ copy:

Q = n × V

Trong đó:

Q: lưu lượng bơm (m3/h)
n: số vòng tuần hoàn mỗi giờ (lần/h)
V: thể tích bể hữu ích (m3)

Ví dụ một bể 5 m3, yêu cầu đảo bể 4 vòng/giờ:

Q = 4 × 5 = 20 m3/h

Khi đó lưu lượng sơ bộ cần chọn là khoảng 20 m3/h, sau đó cộng thêm hệ số dự phòng khoảng 5–15% tùy mức dao động vận hành. Cách tính này đặc biệt phù hợp với bể trung hòa, bể pha hóa chất, bể tẩy rửa hoặc bồn giữ nồng độ trước khi cấp vào dây chuyền.

Kinh nghiệm thực tế thường dùng là bể chứa hoặc bể ổn định chỉ cần số vòng thấp hơn, còn bể cần đồng nhất nhanh hoặc bể có xu hướng tách lớp thì số vòng cao hơn. Giá trị cụ thể không nên lấy cứng cho mọi ứng dụng; cần bám yêu cầu công nghệ của từng dây chuyền. Điểm đúng ở đây là bạn luôn có thể lấy thể tích bể nhân với số vòng tuần hoàn mong muốn để ra lưu lượng sơ bộ trước, rồi mới kiểm tra lại bằng đường cong thiết bị. Cách tiếp cận này là một suy luận thiết kế thực hành từ nguyên lý system curve và duty point của hệ bơm.

Cách 2: Tính theo thời gian phải đảo hết thể tích

Khi hồ sơ công nghệ không nói “bao nhiêu vòng/giờ” mà lại yêu cầu “đảo hết bể trong 10 phút” hoặc “thay toàn bộ thể tích trong 15 phút”, ta dùng cách thứ hai.

Công thức dễ copy:

Q = V / t

Trong đó:

Q: lưu lượng (m3/h)
V: thể tích cần tuần hoàn (m3)
t: thời gian hoàn thành một vòng đổi thể tích (h)

Ví dụ bể 2 m3 cần tuần hoàn hết trong 12 phút:

t = 12/60 = 0.2 h
Q = 2 / 0.2 = 10 m3/h

Đây thực chất là cùng bản chất với cách 1, chỉ khác ở chỗ bạn đang biểu diễn yêu cầu bằng thời gian thay vì số vòng mỗi giờ.

Cách 3: Tính theo nhu cầu của thiết bị trên vòng tuần hoàn

Trong rất nhiều hệ hóa chất, bơm không chỉ đảo bể mà còn phải cấp qua một hoặc nhiều thiết bị công nghệ. Lúc đó, lưu lượng của bơm phải bằng hoặc lớn hơn lưu lượng mà thiết bị cần. Ví dụ:

  • bộ lọc tuần hoàn yêu cầu 8 m3/h
  • dàn phun yêu cầu 6 m3/h
  • nhánh xả hồi tạo khuấy cần 4 m3/h

Khi cùng hoạt động đồng thời:

Công thức dễ copy:

Qtotal = Q1 + Q2 + Q3 + …

Ví dụ:

Qtotal = 8 + 6 + 4 = 18 m3/h

Sau đó cộng hệ số dự phòng nhỏ:

Qchon ≈ 18 × 1.1 = 19.8 m3/h

Có thể làm tròn chọn mức khoảng 20 m3/h. Cách này đúng với các vòng lọc hóa chất, tháp scrubber, hệ rửa bề mặt, hệ phun tuần hoàn hoặc các mạch có nhiều nhánh mở cùng lúc.

Cách 4: Tính theo lưu lượng qua tiết diện ống

Khi chưa chốt được yêu cầu công nghệ nhưng đã biết đường kính ống và muốn kiểm tra nhanh khả năng đi ống, có thể ước tính lưu lượng từ vận tốc dòng chảy.

Công thức dễ copy:

Q = A × v

Trong đó:

Q: lưu lượng (m3/s)
A: diện tích tiết diện ống (m2)
v: vận tốc chất lỏng (m/s)

Với ống tròn:

A = π × D2 / 4

Suy ra:

Q = π × D2 × v / 4

Cách này hữu ích để kiểm tra ngược: đường ống DN đã chọn có quá nhỏ không, vận tốc có quá cao không, từ đó suy ra tổn thất ma sát có thể tăng mạnh hay không. Trong hệ hóa chất tuần hoàn, đi ống quá nhỏ để “tiết kiệm ống” thường khiến cột áp tăng nhanh và bơm phải làm việc xa vùng tối ưu.

3) Cách tính nhanh cột áp cho hệ bơm hóa chất tuần hoàn

Sau khi có lưu lượng, bước tiếp theo là tính cột áp tổng. Đây là phần nhiều người nhầm nhất.

Công thức tổng quát dễ copy:

Htong = Htinh + Hma_sat + Hcuc_bo + Hthiet_bi + Hdu_phong

Trong đó:

Htinh: cột áp tĩnh (m)
Hma_sat: tổn thất ma sát đường ống thẳng (m)
Hcuc_bo: tổn thất cục bộ qua co, tê, van, cút, khớp nối… (m)
Hthiet_bi: tổn thất qua thiết bị công nghệ như lọc, dàn phun, bộ trao đổi nhiệt… (m)
Hdu_phong: phần dự phòng hợp lý (m)

Theo nguyên lý đường cong hệ thống, tổng cột áp của hệ là tổng của phần tĩnh và phần tổn thất phụ thuộc vào lưu lượng. Khi lưu lượng tăng, ma sát tăng và điểm làm việc dịch chuyển.

3.1. Cột áp tĩnh

Nếu bơm hút từ bể A và trả về lại chính bể A, hoặc hút và xả về hai điểm có mực dung dịch tương đương, thì về mặt tính hệ thống tuần hoàn, cột áp tĩnh gần như bằng 0 hoặc rất nhỏ. Nhưng nếu bơm chuyển từ bể thấp sang bể cao, hoặc hút từ bồn ngầm rồi trả lên tháp phản ứng cao hơn, bạn phải lấy đúng chênh cao mực chất lỏng.

Công thức dễ copy:

Htinh = Zxa – Zhut

Trong đó:

Zxa: cao độ mặt chất lỏng phía xả hoặc điểm nhận (m)
Zhut: cao độ mặt chất lỏng phía hút (m)

3.2. Tổn thất ma sát ống thẳng

Cách cơ bản và được dùng rộng rãi là Darcy–Weisbach.

Công thức dễ copy:

Hma_sat = f × (L/D) × (v2 / 2g)

Trong đó:

f: hệ số ma sát
L: chiều dài ống tương đương (m)
D: đường kính trong của ống (m)
v: vận tốc dòng chảy (m/s)
g: 9.81 m/s2

Darcy–Weisbach là phương trình chuẩn để tính tổn thất cột áp do ma sát trong ống; Grundfos cũng dùng nguyên lý tổng tổn thất đường ống cộng vào TDH khi xác định cột áp cần của bơm.

Trong bài toán “tính nhanh”, nếu chưa muốn tính chi tiết hệ số ma sát, bạn có thể dùng bảng tra tổn thất theo 100 m ống hoặc phần mềm đường ống, rồi quy đổi:

Công thức dễ copy:

Hma_sat = J × L

Trong đó:

J: tổn thất cột áp trên 1 m ống (m/m)
L: chiều dài ống tương đương (m)

3.3. Tổn thất cục bộ

Van, co 90 độ, tê, van một chiều, lọc Y, đoạn thu, đoạn loe… đều gây tổn thất cục bộ.

Công thức dễ copy:

Hcuc_bo = ΣK × (v2 / 2g)

Trong đó:

K: hệ số tổn thất cục bộ của từng phụ kiện

Nếu muốn tính nhanh hơn nữa, bạn có thể quy đổi từng phụ kiện ra chiều dài ống tương đương, rồi cộng vào tổng chiều dài L để tính chung với ma sát ống thẳng. Cách quy đổi này thường rất tiện khi hệ có nhiều co và van.

3.4. Tổn thất qua thiết bị công nghệ

Đây là phần bị bỏ sót nhiều nhất. Một bộ lọc cartridge, một dàn trao đổi nhiệt tấm, một đồng hồ đo, một đầu phun hoặc một tháp hấp thụ đều có sụt áp riêng. Nếu catalogue thiết bị ghi sụt áp 0.5 bar ở lưu lượng định mức, bạn phải quy đổi nó sang mét cột chất lỏng.

Pumps.org nêu rõ rằng head là năng lượng trên một đơn vị trọng lượng chất lỏng, nên đường cong cột áp về bản chất không phụ thuộc vào khối lượng riêng của chất lỏng; tuy nhiên khi đổi giữa áp suất và head thì phải xét specific gravity. Grundfos cũng minh họa việc cùng một head sẽ cho áp suất khác nhau khi specific gravity thay đổi.

Với nước:

Công thức dễ copy:

1 bar ≈ 10.2 mH2O

Với chất lỏng có tỷ trọng tương đối SG:

Công thức dễ copy:

H (m) ≈ 10.2 × P(bar) / SG

Ví dụ thiết bị có sụt áp 0.6 bar, hóa chất có SG = 1.2:

Hthiet_bi ≈ 10.2 × 0.6 / 1.2 = 5.1 m

Đây là điểm rất quan trọng trong hệ hóa chất. Nhiều người lấy thẳng 0.6 bar = 6 m là sai, vì 6 m chỉ là xấp xỉ cho nước với SG gần 1.

4) Công thức gộp để tính siêu nhanh

Khi cần chốt sơ bộ cực nhanh cho giai đoạn hỏi giá hoặc lên phương án ban đầu, bạn có thể dùng quy trình 5 bước sau.

Bước 1: Chọn lưu lượng tuần hoàn

Q = n × V
hoặc
Q = V / t
hoặc
Q = ΣQnhanh

Bước 2: Tính vận tốc trong ống

v = Q / A

Bước 3: Tính tổn thất ống

Hma_sat = f × (L/D) × (v2 / 2g)

Bước 4: Cộng tổn thất cục bộ và thiết bị

Htong = Htinh + Hma_sat + Hcuc_bo + Hthiet_bi

Bước 5: Cộng dự phòng

Hchon = Htong × 1.05 đến 1.15

Phần dự phòng không nên cộng quá dày. Dự phòng quá lớn làm bơm chạy lệch điểm tối ưu, tăng điện năng và dễ phát sinh rung ồn. Pumps.org lưu ý rằng bơm nên làm việc gần vùng hiệu suất tốt nhất và vùng vận hành ưu tiên, thay vì chạy quá xa khỏi điểm thiết kế.

5) Ví dụ thực tế 1: Bể pha hóa chất tuần hoàn đơn giản

Giả sử có bể pha 3 m3. Yêu cầu đảo đều 5 vòng/giờ. Ống tuần hoàn PVC/PP dài thực tế 18 m, có 4 co 90 độ, 2 van bi, 1 lọc. Dung dịch gần giống nước, SG = 1.05. Không có chênh cao đáng kể vì hút và trả cùng một bể.

Tính lưu lượng

Q = n × V = 5 × 3 = 15 m3/h

Cột áp tĩnh

Htinh ≈ 0 m

Tổn thất đường ống và phụ kiện

Với bài tính nhanh, giả sử sau khi quy đổi toàn bộ co, van, lọc ra chiều dài tương đương, tổng L tương đương khoảng 32 m. Sau khi tra tổn thất cho ống ở lưu lượng tương ứng, ta tạm lấy:

Hma_sat + Hcuc_bo ≈ 3.5 m

Tổn thất thiết bị

Không có thiết bị công nghệ đáng kể ngoài lọc thô nhỏ, coi như đã gộp.

Cộng dự phòng

Hchon = 3.5 × 1.1 ≈ 3.85 m

Như vậy có thể chốt sơ bộ:

Q ≈ 15 m3/h
H ≈ 4 m

Ở dải nhỏ, nếu cần bơm gọn cho vòng tuần hoàn nhẹ, có thể tham khảo các model nhỏ của máy bơm hóa chất dạng từ Wilo như Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-051NE có lưu lượng tối đa 15 L/phút, cột áp tối đa 8 m; hoặc Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-150PE có lưu lượng tối đa 60 L/phút, cột áp tối đa 5.5 m. Hai model này phù hợp hơn với các vòng nhỏ, châm hồi, tuần hoàn cục bộ hoặc chiết rót quy mô nhỏ chứ chưa phù hợp cho hệ 15 m3/h như ví dụ trên.

6) Ví dụ thực tế 2: Hệ tuần hoàn qua thiết bị lọc

Giả sử bể hóa chất 4 m3 nhưng yêu cầu công nghệ là phải cho dung dịch đi qua bộ lọc với lưu lượng 12 m3/h. Đường ống tổng dài 35 m, nhiều co và van, tổng tổn thất đường ống quy đổi ra 4.2 m tại lưu lượng đó. Bộ lọc có sụt áp 0.35 bar. SG dung dịch = 1.15. Chênh cao tĩnh bỏ qua.

Lưu lượng

Q = 12 m3/h

Đổi sụt áp bộ lọc sang mét cột dung dịch

Hloc = 10.2 × 0.35 / 1.15 ≈ 3.1 m

Cột áp tổng

Htong = 0 + 4.2 + 3.1 = 7.3 m

Cộng dự phòng

Hchon = 7.3 × 1.1 ≈ 8.0 m

Kết quả sơ bộ:

Q ≈ 12 m3/h
H ≈ 8 m

Lúc này, model nhỏ sẽ không còn phù hợp. Nếu cần dải trung bình khá, có thể xem những model lớn hơn như Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-300PEH 300 W với lưu lượng tới khoảng 4.5 m3/h, cột áp tối đa 7.5 m; hoặc Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-250PEH với lưu lượng tối đa 90 L/phút và cột áp tối đa 6 m. Hai model này vẫn chỉ hợp với hệ nhỏ đến trung bình. Với hệ quanh 12 m3/h, thường phải nhìn sang dải cao hơn.

7) Ví dụ thực tế 3: Hệ tuần hoàn lớn qua giàn phun

Giả sử hệ phun tuần hoàn cần 180 L/phút, tương đương:

Q = 180 / 1000 × 60 = 10.8 m3/h

Đường ống và phụ kiện tạo tổn thất 5 m. Giàn phun và thiết bị tạo thêm 4 m. Chênh cao thực tế 1.5 m.

Htong = 1.5 + 5 + 4 = 10.5 m

Cộng dự phòng 10%:

Hchon = 10.5 × 1.1 ≈ 11.6 m

Vậy bạn nên đi tìm bơm có điểm làm việc gần:

Q ≈ 10.8 m3/h
H ≈ 11.5 đến 12 m

Trong nhóm model đã được ghi nhớ, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-403PG có lưu lượng tối đa 250 L/phút và cột áp tối đa 11 m, còn Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-753PG có lưu lượng tối đa 300 L/phút và cột áp tối đa 16 m. Ở mức tính sơ bộ, nếu hệ yêu cầu khoảng 180 L/phút tại xấp xỉ 10–12 m cột áp, dải PM-403PG hoặc PM-753PG sẽ là những model đáng kiểm tra đường cong thực tế đầu tiên, trong đó PM-753PG cho biên an toàn cột áp rộng hơn.

8) Chọn bơm theo điểm làm việc, không chọn theo “công suất nghe có vẻ đủ”

Sai lầm thường gặp là thấy công suất motor lớn thì cho rằng bơm sẽ “mạnh hơn”. Thực tế, bơm phải được chọn theo điểm làm việc Q-H. Một model 0.75 kW chưa chắc phù hợp nếu đường cong của nó không đi qua điểm cần thiết. Cũng giống như trong các hệ máy bơm nước Wilo dân dụng hoặc công nghiệp khác, điều quan trọng không phải là số kW đứng riêng lẻ, mà là ở lưu lượng yêu cầu đó bơm còn tạo được bao nhiêu cột áp thực. Grundfos và Pumps.org đều nhấn mạnh rằng điểm vận hành được xác định bởi giao điểm của đường cong bơm với đường cong hệ thống; khi hệ thống thay đổi, điểm vận hành cũng thay đổi theo.

Vì thế, sau khi tính nhanh ra Q và H, bạn luôn phải làm thêm bước cuối là đối chiếu với curve. Nếu duty point nằm sát mép phải của curve, bơm có thể chạy gần runout. Nếu nằm quá sát trái, bơm dễ chạy gần shut-off. Cả hai đều không phải vùng vận hành đẹp.

9) Những lưu ý riêng khi tính cho hóa chất, không nên bê nguyên cách tính nước sạch

Thứ nhất là tỷ trọng. Head tính bằng mét không tự đổi theo nước hay axit, nhưng khi bạn nhận thông tin sụt áp bằng bar từ bộ lọc hoặc trao đổi nhiệt, phải đổi theo SG. Đây là lỗi rất hay gặp ở các hệ axit, kiềm hoặc dung dịch muối có tỷ trọng cao hơn nước.

Thứ hai là độ nhớt. Tài liệu Wilo cho dòng bơm từ dẫn có nhắc rằng với lưu chất trên khoảng 30 cP cần tham vấn thêm. Nghĩa là nếu bạn tuần hoàn hóa chất đặc, polymer hoặc dung dịch có độ nhớt tăng theo nhiệt độ thấp, không nên lấy kết quả tính theo nước rồi dùng ngay. Ma sát ống sẽ khác, hiệu suất bơm cũng khác.

Thứ ba là khả năng chống rò rỉ. Với các môi trường ăn mòn hoặc yêu cầu sạch, máy bơm hóa chất dạng từ Wilo có ưu điểm lớn ở cấu trúc truyền động từ, hạn chế nguy cơ rò tại vị trí phớt. Đây là lý do dòng này thường được quan tâm trong các vòng tuần hoàn hóa chất có yêu cầu an toàn cao.

Thứ tư là vật liệu tiếp xúc lưu chất. Một số model trên trang phân phối thể hiện cánh bơm bằng PP hoặc Noryl, trục ceramic; chẳng hạn Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-051NE dùng cánh Noryl và trục ceramic, còn Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-403PG và Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-753PG thể hiện cánh nhựa PP và trục ceramic. Khi chọn bơm, đừng chỉ nhìn Q-H mà bỏ qua độ tương thích vật liệu với axit, kiềm, muối, chất oxy hóa hoặc nhiệt độ làm việc.

10) Cách chốt nhanh model sơ bộ theo từng dải lưu lượng

Nếu chỉ cần định hướng ban đầu, bạn có thể chia thô như sau.

Với các vòng rất nhỏ, châm hồi hoặc tuần hoàn cục bộ vài lít đến vài chục lít/phút, có thể khảo sát nhóm như Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-030PE, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-051NE, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-052PE. Với các vòng vừa hơn, có thể kiểm tra Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-150PE, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-250PEH, MÁY BƠM HÓA CHẤT DẠNG TỪ WILO PM-300PE, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-300PEH 300 W. Với hệ lớn hơn, dải Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-403PG, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-753PG, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-1533PG 1.5 kW, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-2203PG 2.2 kW là những tên model thường được người mua xem đến khi lưu lượng và cột áp tăng lên. Danh mục trên trang phân phối hiện hiển thị 17 model thuộc nhóm này.

Ngay cả khi hệ của bạn cuối cùng không dùng đúng model nêu trên, việc lấy các model đó làm mốc tham chiếu vẫn rất hữu ích. Nó giúp người thiết kế và người mua hình dung nhanh: hệ này đang ở “dải nhỏ”, “dải trung” hay “dải lớn”.

11) Quy trình thực hành gọn nhất cho người làm kỹ thuật hiện trường

Khi đứng tại công trình, muốn chốt sơ bộ thật nhanh, bạn chỉ cần làm theo đúng thứ tự này:

  • Bước đầu, xác định bể bao nhiêu m3 hoặc thiết bị cần bao nhiêu m3/h.
  • Bước hai, quyết định lưu lượng theo số vòng tuần hoàn hoặc theo lưu lượng thiết bị.
  • Bước ba, đi tuyến ống và ghi chiều dài thực tế.
  • Bước bốn, đếm phụ kiện: bao nhiêu co, bao nhiêu van, bao nhiêu lọc, bao nhiêu thiết bị có sụt áp.
  • Bước năm, cộng cột áp tĩnh nếu có chênh cao thật.
  • Bước sáu, quy đổi sụt áp thiết bị từ bar sang mét theo SG của dung dịch.
  • Bước bảy, cộng dự phòng vừa phải rồi đối chiếu curve.

Làm đúng bảy bước này, bạn sẽ tránh được phần lớn sai số sơ bộ. Đây cũng là tư duy nên áp dụng cho nhiều nhóm máy bơm nước Wilo khác, không riêng bơm hóa chất: luôn bắt đầu bằng nhu cầu hệ thống rồi mới quay lại model.

Kết luận

Muốn tính nhanh lưu lượng – cột áp cho hệ bơm hóa chất tuần hoàn, hãy nhớ một nguyên tắc rất ngắn gọn: lưu lượng xuất phát từ yêu cầu công nghệ, còn cột áp xuất phát từ tổng trở lực của cả vòng tuần hoàn. Đừng vội nhìn công suất, đừng nhìn mỗi đường kính ống, và càng không nên bê cách tính của hệ nước sạch sang nguyên xi cho hóa chất đặc, hóa chất nặng hoặc vòng có nhiều thiết bị.

Tóm lại, phần lưu lượng có thể chốt nhanh bằng ba công thức:

Q = n × V
Q = V / t
Q = ΣQnhanh

Còn phần cột áp chốt theo:

Htong = Htinh + Hma_sat + Hcuc_bo + Hthiet_bi + Hdu_phong

Sau đó mới đối chiếu với đường cong bơm để chọn model. Với các hệ nhỏ đến lớn, bạn có thể dùng các model tham chiếu như Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-051NE, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-150PE, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-250PEH, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-300PEH 300 W, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-403PG, Máy bơm hóa chất dạng từ Wilo PM-753PG để hình dung sơ bộ dải làm việc trước khi chốt lựa chọn cuối cùng. Và cũng như nhiều nhóm máy bơm nước Wilo khác, chọn đúng điểm làm việc luôn quan trọng hơn chọn “bơm có vẻ mạnh”.